Turbe


Điều trị các dạng lao phổi và lao ngoài phổi ở người lớn, gồm cả lao mắc mới, lao tiến triển, hoặc lao mạn tính.
💊 Thành phần dược chất:
Rifampicin 150 mg
Isoniazid  100 mg
Thành phần tá dược: Avicel, PEG 6000, Croscarmellose, PVP K30, Magnesi stearat, HPMC, Titan dioxyd, Talc, Indigocarmin, Carmoisine
sản phẩm không bán online

1

✅ Thành phần dược chất:
Rifampicin 150 mg
Isoniazid  100 mg
Thành phần tá dược: Avicel, PEG 6000, Croscarmellose, PVP K30, Magnesi stearat, HPMC, Titan dioxyd, Talc, Indigocarmin, Carmoisine
✅ Dạng bào chế: Viên nén bao phim
✅ Quy cách đóng gói:
Hộp 3 vỉ x 12 viên, hộp 10 vỉ x 12 viên
✅ Dược lực học:
Rifampicin: Rifampicin là dẫn chất kháng sinh bán tổng hợp của Rifampicin B. Rifampicin có hoạt tính với các vi khuẩn thuộc chủng Mycobacterium đặc biệt là vi khuẩn lao, phong và Mycobacterium khác như M. bovis, M. avium. Rifampicin có hoạt tính chống cả M. tuberculosis phát triển chậm hay phát triển gián đoạn, đồng thời cũng có thể diệt khuẩn nội bào. Nồng độ tối thiểu ức chế đối với vi khuẩn lao là 0,1 – 2,0mcg/ml.
Ngoài ra Rifampicin không kháng chéo với các kháng sinh và các thuốc trị lao khác. Kháng chéo chỉ xuất hiện ở kháng sinh khác cùng nhóm rifamycin. Rifampicin ức chế hoạt tính enzym tổng hợp RNA phụ thuộc DNA của vi khuẩn Mycobacterium và các vi khuẩn khác bằng cách tạo phức bền vững thuốc – enzym
Isoniazid: Isoniazid là một trong những thuốc hóa học đầu tiên được chọn trong điều trị lao. Thuốc đặc hiệu cao, có tác dụng chống lại Mycobacterium tuberculosis và các Mycobacterium không điển hình khác như M. bovis, M. kansasii. Isoniazid diệt khuẩn phụ thuộc vào nồng độ thuốc ở vị trí tổn thương và mức độ nhạy cảm của vi khuẩn.
Cơ chế tác dụng chính xác của Isoniazid vẫn chưa biết nhưng có thể do thuốc ức chế tổng hợp acid mycolic và phá vỡ thành tế bào vi khuẩn lao. Nồng độ tối thiểu ức chế in vitro đối với trực khuẩn lao từ 0,02 – 0,2mcg/ml.
✅ Dược động học:
Liều dùng phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể và phải tuân thủ phác đồ phòng chống lao quốc gia. Các thuốc chống lao khác có thể được dùng cùng với Turbe cho đến khi xác định được mức độ nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh với rifampicin và isoniazid.
Người dưới 50 kg: 3 viên/ngày
Người trên 50 kg: 4 viên/ngày
Cách dùng: Uống một lần duy nhất vào buổi sáng, lúc dạ dày rỗng (ít nhất 30 phút trước bữa sáng hoặc 2 tiếng sau bữa sáng).
Bệnh nhân lớn tuổi: Cần thận trọng khi dùng Turbe cho người cao tuổi, nhất là khi có dấu hiệu suy chức năng gan.
✅ Chỉ định
Điều trị các dạng lao phổi và lao ngoài phổi ở người lớn, gồm cả lao mắc mới, lao tiến triển, hoặc lao mạn tính.
✅ Liều dùng và cách dùng:
Liều dùng phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể và phải tuân thủ phác đồ phòng chống lao quốc gia. Các thuốc chống lao khác có thể được dùng cùng với Turbe cho đến khi xác định được mức độ nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh với rifampicin và isoniazid.
Người dưới 50 kg: 3 viên/ngày
Người trên 50 kg: 4 viên/ngày
Cách dùng: Uống một lần duy nhất vào buổi sáng, lúc dạ dày rỗng (ít nhất 30 phút trước bữa sáng hoặc 2 tiếng sau bữa sáng).
Bệnh nhân lớn tuổi: Cần thận trọng khi dùng Turbe cho người cao tuổi, nhất là khi có dấu hiệu suy chức năng gan.
✅ Chống chỉ định:
Những người mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Người suy chức năng gan do bất kỳ nguyên nhân nào, có biểu hiện vàng da, viêm đa dây thần kinh, và người động kinh.
Rối loạn chuyển hóa porphyrin ở những người nhạy cảm với rifampicin do một cơ chế có liên quan tới việc gây cảm ứng enzyme cytochrome P450 ở gan.
Dùng cùng chế phẩm kết hợp saquinavir/ritonavir.
✅ Lưu ý và thận trọng:
Turbe là thuốc phối hợp 2 hoạt chất, cả 2 đều gây suy giảm chức năng gan.
Mọi bệnh nhân lao đều cần được đánh giá chức năng gan trước khi điều trị với Turbe.
Cụ thể, người lớn điều trị lao với Turbe cần được đánh giá nồng độ enzyme gan, bilirubin, creatinin huyết thanh, tổng phân tích tế bào máu, số lượng tiểu cầu.
Bệnh nhân cần khám định kỳ, ít nhất 1 tháng/lần, trong suốt quá trình dùng thuốc; bác sĩ cần tập trung vào các triệu chứng liên quan tới tác dụng bất lợi nêu trên.
Mọi bệnh nhân có chức năng gan bất thường cần được theo dõi, bao gồm xét nghiệm định kỳ, nếu cần thiết. Tuy nhiên, do tần suất viêm gan liên quan đến isoniazid cao hơn ở những người trên 35 tuổi, nhóm này nên được kiểm tra nồng độ transaminase khi bắt đầu điều trị và ít nhất là hàng tháng trong quá trình dùng thuốc. Các yếu tố khác cũng liên quan đến tăng nguy cơ viêm gan gồm lượng rượu uống mỗi ngày, bệnh gan mạn tính, lạm dụng tiêm ma túy, là chủng người da đen/gốc phi hoặc gốc mỹ latin.
Nếu bệnh nhân không có dấu hiệu có bệnh gan trước đó và đánh giá chức năng gan bình thường, vậy chỉ cần nhắc lại xét nghiệm chức năng gan khi có sốt, nôn, vàng da, hay có dấu hiệu bệnh trở nặng.
Đã quan sát được phản ứng quá mẫn nghiêm trọng trên toàn thể, bao gồm một số ca tử vong, ví dụ như hội chứng phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân, trong khi dùng thuốc chống lao.
Nên ngừng dùng Turbe nếu không tìm được nguyên nhân gây phản ứng bất lợi.
Rifampicin:
Rifampicin chỉ nên được kê đơn dưới sự theo dõi của bác sĩ chuyên khoa hô hấp hoặc chuyên khoa khác thích hợp.
Bệnh nhân suy chức năng gan chỉ nên được kê đơn rifampicin khi cần thiết, sau đó cần theo dõi sát và thận trọng. Ở những bệnh nhân này, khuyến cáo nên kê liều rifampicin thấp hơn kèm theo giám sát cẩn thận chức năng gan, nhất là nồng độ SGPT và SGOT nên được đo trước khi điều trị, hàng tuần trong 2 tuần điều trị đầu, và mỗi 2 tuần trong 6 tuần dùng thuốc tiếp theo. Nếu có dấu hiệu tổn thương tế bào gan, cần ngừng rifampicin ngay.
Cũng nên ngừng rifampicin nếu có dấu hiệu lâm sàng khác thể hiện suy chức năng gan. Cân nhắc đổi thuốc hoặc dùng phác đồ khác. Cần tham vấn ngay bác sĩ chuyên khoa lao. Nếu dùng lại rifampicin sau khi chức năng gan trở lại bình thường, chức năng gan sau đó cần được theo dõi hàng ngày.
Ở bệnh nhân suy chức năng gan, người cao tuổi, người suy dinh dưỡng, và có thể cả trẻ dưới 2 tuổi, cần đặc biệt thận trọng khi dùng phác đồ điều trị có phối hợp isoniazid cùng rifampicin.
Ở một số bệnh nhân, có thể có tăng bilirubin máu trong vài ngày đầu điều trị. Điều này do tranh chấp thải trừ ở gan của rifampicin và bilirubin. Một báo cáo đơn lẻ chỉ ra có tăng bilirubin và/hoặc transaminase ở mức trung bình không đủ khiến phải ngừng dùng thuốc; chỉ nên đưa ra quyết định sau khi làm lại test, phân tích xu hướng tăng nồng độ, và các yếu tố cận lâm sàng trên cần được xem xét song song tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Do có nguy cơ nhất định xảy ra phản ứng về miễn dịch, như phản vệ, khi điều trị gián đoạn (ít hơn 2-3 liều/tuần), bệnh nhân cần được theo dõi sát. Bệnh nhân cần được cảnh báo các phản ứng này có thể xảy ra nếu gián đoạn điều trị.
Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên da (SCARs), như hội chứng Stevens-Johnson (SJS), hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN), hội chứng phát ban do thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và triệu chứng toàn thân (DRESS), hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính (AGEP), có thể gây nguy hiểm tính mạng hay tử vong, đã được báo cáo khi điều trị với Turbe, tần suất không rõ.
Tại thời điểm kê đơn, bệnh nhân cần được tư vấn các dấu hiệu, triệu chứng, và theo dõi kỹ các phản ứng trên da.
Cũng cần lưu ý rằng một số biểu hiện sớm của quá mẫn, như sốt, sưng hạch bạch huyết, hay bất thường sinh lý (tăng bạch cầu ái toan, bất thường chức năng gan) có thể xuất hiện mà không kèm phát ban. Nếu xuất hiện dấu hiệu, triệu chứng như trên, bệnh nhân cần tham khảo bác sỹ điều trị của họ ngay lập tức.
Nếu xuất hiện dấu hiệu, triệu chứng của các phản ứng trên, cần ngừng dùng Turbe ngay lập tức, cân nhắc điều trị thay thế thích hợp.
Phần lớn các phản ứng này xuất hiện từ 2 ngày đến 2 tháng sau khi bắt đầu điều trị, thời gian khởi phát có thể dao động tùy từng bệnh nhân.
Rifampicin gây cảm ứng enzyme, do vậy làm tăng chuyển hóa một số cơ chất nội sinh như hormone thượng thận, hormon tuyến giáp, và vitamin D. Một số báo cáo đơn lẻ quy kết đợt bùng phát rối loạn chuyển hóa porphyria với việc dùng rifampicin.
Rifampicin có thể gây biến màu (vàng, cam, đỏ, nâu) răng, nước tiểu, mồ hôi, đờm, hay nước mắt; bệnh nhân cần được báo trước về điều này. Kính sát tròng mềm có thể bị nhuộm màu vĩnh viễn.
Rifampicin được ghi nhận từ lâu là chất gây cảm ứng enzyme hoặc chất mang chuyển hóa thuốc, do vậy có thể làm giảm nồng độ và hiệu quả thuốc dùng cùng. Cần cân nhắc bất kỳ tương tác nào có thể có khi bắt đầu cũng như ngừng dùng rifampicin.
Rifampicin có thể gây rối loạn đông máu phụ thuộc vitamin K hay chảy máu nặng. Khuyến cáo theo dõi chặt sự xuất hiện rối loạn đông máu ở bệnh nhân có nguy cơ chảy máu. Có thể dùng vitamin K bổ sung khi cần (khi có thiếu vitamin K, giảm prothrombin máu)
Isoniazid:
Cần theo dõi cẩn thận khi dùng isoniazid cho bệnh nhân hiện mắc bệnh gan mạn tính hoặc suy chức năng thận nặng.
Có thể xảy ra viêm gan nặng, đôi khi còn gây tử vong, do sử dụng isoniazid; nhiều tháng sau khi ngừng điều trị vẫn có thể gặp biến cố. Nguy cơ viêm gan liên quan đến tuổi. Do vậy, bệnh nhân cần được theo dõi các tiền triệu chứng viêm gan, như mệt mỏi, yếu cơ, khó chịu trong người, chán ăn, buồn nôn, hoặc nôn. Nếu xuất hiện các triệu chứng này, hoặc có dấu hiệu tổn thương gan, cần ngừng ngay isoniazid, do đã có báo cáo nếu tiếp tục dùng sẽ gây tổn thương gan nghiêm trọng hơn.
Đã có báo cáo một số ca phản ứng bất lợi nghiêm trọng trên da, gồm hội chứng Stevens -Johnson (SJS), hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN), một số gây tử vong. Bệnh nhân cần được thông báo về các dấu hiệu, triệu chứng, theo dõi kỹ phản ứng trên da. Nếu có dấu hiệu, triệu chứng của SJS hay TEN (ví dụ, phát ban tăng dần, thường kèm phồng rộp hay trợt niêm mạc), bệnh nhân cần đến gặp bác sĩ ngay. Nếu không tìm được nguyên nhân cho phản ứng bất lợi, cần ngừng isoniazid vĩnh viễn.
Với bệnh nhân cao tuổi hay người suy dinh dưỡng, cần chăm sóc tăng cường do đối tượng này thường cần bổ sung vitamin B6 khi điều trị bằng isoniazid.
Cần giám sát thận trọng khi dùng isoniazid cho bệnh nhân chuyển hóa acetyl chậm, động kinh, tiền sử loạn thần, tiền sử bệnh thần kinh ngoại vi, tiểu đường, nghiện rượu, nhiễm HIV, hoặc có rối loạn chuyển hóa porphyria.
Tá dược có tác dụng đáng lưu ý:
Viên nén bao phim Turbe có chứa carmoisine; chất này có thể gây các phản ứng dị ứng.
✅ Tác dụng không mong muốn:
Rifampicin: Thuốc được dung nạp tốt. Tác dụng phụ như tăng men gan không có triệu chứng có thể xảy ra ở những tuần đầu điều trị và không có ý nghĩa về lâm sàng. Nồng độ men gan trở lại bình thường khi ngừng Rifampicin hoặc khi vẫn tiếp tục dùng thuốc. Tác dụng phụ có thể xảy ra nhưng hiếm gặp là viêm gan hoặc vàng da. Có thể xảy ra hội chứng bệnh giống như cúm ở bệnh nhân tiếp tục điều trị với thuốc sau một thời gian ngừng thuốc tạm thời. Trong trường hợp này sau đó có thể bị giảm tiểu cầu, thiếu máu do tan huyết, sốc và suy thận cấp tính.
Isoniazid: Thông thường thuốc được dung nạp tốt. Hiện tượng suy thoái dây thần kinh ngoại biên đã được báo cáo ở những phụ nữ mang thai, suy dinh dưỡng, người nghiện rượu và bệnh nhân bị tiểu đường. Viêm gan tuy không phổ biến nhưng là phản ứng phụ nghiêm trọng và phải ngừng ngay việc điều trị. Sự tăng đột ngột nồng độ men gan ở thời gian đầu điều trị không có ý nghĩa về mặt lâm sàng.
✅ Hạn dùng:
48 tháng kể từ ngày sản xuất. Không dùng nếu thấy viên bị mốc, biến màu hoặc thấy hiện tượng khác lạ và báo cho nhà sản xuất biết.
✅ Bảo quản:
Nơi khô ráo, tránh ánh sáng, nhiệt độ không quá 30 độ C.
ĐỌC KỸ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TRƯỚC KHI DÙNG
✅ Nơi sản xuất:
CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM NAM HÀ
415 Hàn Thuyên – Phường Vị Xuyên – Thành phố Nam Định – Tỉnh Nam Định.

Loại Sản Phẩm

Dược phẩm

Nhóm thuốc

Chống lao

💊 Thành phần dược chất:
Rifampicin 150 mg
Isoniazid  100 mg
Thành phần tá dược: Avicel, PEG 6000, Croscarmellose, PVP K30, Magnesi stearat, HPMC, Titan dioxyd, Talc, Indigocarmin, Carmoisine

Dựa trên 0 reviews

0.0 overall
0
0
0
0
0

Hãy đánh giá sản phẩm “Turbe”

There are no reviews yet.